Tiếng Việt Lớp 4
Hệ thống học tập số hóa toàn diện 62 bài học trọng tâm (Tập một & Tập hai), chuẩn hóa 4 trụ cột Đọc hiểu - Luyện từ và câu - Viết - Nói và nghe cùng Hội thi Trạng Nguyên 60:00. Đã loại bỏ toàn bộ hình ảnh trích từ sách giáo khoa nhằm bảo đảm chuẩn mực bản quyền.
Bài 1. Điều kì diệu
"Mỗi bạn nhỏ trong lớp đều có vẻ ngoài, giọng nói, tính cách và sở thích khác nhau. Khi ngắm nhìn vườn hoa của mẹ muôn sắc muôn hương, bạn nhỏ nhận ra sự đa dạng chính là điều kì diệu tạo nên một tập thể thống nhất, rực rỡ và tràn đầy sức mạnh như một dàn đồng ca."
Bài 2. Thi nhạc
"Ngày thi tốt nghiệp của các học trò thầy vàng anh diễn ra tưng bừng. Ve sầu tấu bản nhạc 'Mùa hè' rực rỡ hoa phượng; Gà trống kiêu hãnh gáy khúc 'Bình minh' rộn rã; Dế mèn hào hoa tấu khúc 'Mùa thu' xao xác lá vàng; Họa mi duyên dáng với khúc 'Mùa xuân' đằm thắm. Thầy vàng anh xúc động vì mỗi em đều tạo dựng được phong cách độc đáo của riêng mình."
Bài 3. Anh em sinh đôi
"Hai anh em Khánh và Long sinh đôi giống nhau như hai giọt nước khiến mọi người hay gọi nhầm. Long từng cố gắng mặc khác, đi đứng khác để không bị lẫn. Nhưng ở hội thao, bạn bè nhận ra hai anh em rất dễ dàng nhờ tính cách: Khánh nhanh nhảu, hay cười; Long cẩn thận, trầm tĩnh. Long nhận ra giá trị nét riêng ở chính tính cách bên trong."
Bài 4. Công chúa và người dẫn chuyện
"Giét-xi được giao vai công chúa nhưng vì quá hồi hộp nên quên lời thoại, cô giáo chuyển em sang vai người dẫn chuyện. Giét-xi buồn bã, mẹ đã dẫn em ra vườn nhổ cỏ và chỉ vào hoa bồ công anh: 'Mỗi loài hoa có vẻ đẹp riêng, không phải ai cũng thành công chúa nhưng giọng đọc truyền cảm của con rất cần cho vở kịch'. Giét-xi tự tin hoàn thành vai diễn xuất sắc."
Bài 5. Thằn lằn xanh và tắc kè
"Thằn lằn xanh và tắc kè muốn đổi chỗ ở và thói quen sinh hoạt cho nhau để tìm cảm giác mới lạ. Tuy nhiên khi đổi chỗ, thằn lằn không bám được trên tường và bị đói, tắc kè không chịu nổi nắng nóng ban ngày trên cây. Cả hai hiểu ra mỗi loài đều có đặc điểm cơ thể thích nghi với môi trường sống riêng và vui vẻ trở về cuộc sống của mình."
Bài 6. Nghệ sĩ trống
"Cô bé Mi-lô sống tại Cuba có niềm đam mê chơi trống tha thiết dù người ta quan niệm trống chỉ dành cho con trai. Vượt qua mọi định kiến và rào cản, Mi-lô chăm chỉ luyện tập từng nhịp gõ theo tiếng sóng biển và gió reo. Nhờ cha và thầy giáo dạy dỗ, em trở thành tay trống trong ban nhạc nữ đầu tiên của Cuba và sau này nổi tiếng khắp thế giới."
Bài 7. Những bức chân dung
"Họa sĩ Màu Nước vẽ chân dung cho hai cô bé Bông Tuyết và Mắt Xanh rất sinh động. Cô bé Hoa Nhỏ nhìn thấy liền nài nỉ vẽ mắt mình thật to, lông mi thật dài, miệng nhỏ xíu. Sau đó mọi cô bé đều đòi vẽ như thế, làm cho tất cả tranh vẽ đều na ná nhau không ai nhận ra ai. Các bạn hiểu rằng vẻ đẹp thật sự là ở nét riêng của mỗi người."
Bài 8. Đò ngang
"Đò ngang ngày ngày cần cù chở khách qua lại bến sông quê. Thấy anh thuyền mành dong buồm ra khơi, đò ngang từng chạnh lòng thấy bến sông của mình chật hẹp. Nhưng thuyền mành đã an ủi và chỉ cho đò ngang thấy: việc chở khách nối liền hai bờ là công việc vô cùng quan trọng và được mọi người hết lòng quý trọng."
Bài 9. Bầu trời trong quả trứng
"Bài thơ là lời tự sự ngộ nghĩnh của chú gà con. Khi còn ở trong vỏ trứng, thế giới chỉ là một màu nâu tối om, chật hẹp. Đến khi lớn lên, đạp vỡ vỏ trứng ra ngoài, gà con sung sướng đón nhận bầu trời xanh biếc, nắng vàng reo rắt, gió lộng và tình yêu chở che của mẹ hiền."
Bài 10. Tiếng nói của cỏ cây
"Cô bé Ta-nhi-a về nghỉ hè ở nhà ông bà đã tự tay bứng khóm hoa hồng còi cọc và cây hoa huệ chuyển ra chỗ nhiều ánh sáng, xới đất tưới nước cẩn thận. Đến cuối hè, hoa hồng nở to thắm sắc, hoa huệ trắng muốt ngát hương. Đêm về, Ta-nhi-a nghe tiếng hoa thầm thì cảm ơn em."
Bài 11. Tập làm văn
"Bạn nhỏ về quê để tìm ý cho bài văn miêu tả cây hoa nhà em. Ra vườn ngắm cây hồng buổi sớm, bạn quan sát kỹ thân cây bằng ngón tay cái, cành nhỏ như ngón út, gai nhọn bảo vệ hoa và giọt sương mai đọng trên cánh. Khi đọc gợi ý 'Em đã chăm sóc cây thế nào?', bạn liền vào bếp lấy bình múc nước tưới mát cho cây trước khi hạ bút viết kết bài."
Bài 12. Nhà phát minh 6 tuổi
"Cô bé Ma-ri-a sinh ra trong một gia đình sáu đời có giáo sư đại học. Năm 6 tuổi, trong bữa tiệc gia đình, cô bé nhận thấy khi nước trà rớt ra đĩa thì tách trà bỗng đứng yên không trượt nữa. Cô liền vào bếp làm đi làm lại thí nghiệm để tìm ra nguyên lý lực ma sát. Người cha hân hoan bế bổng con và dự đoán cô bé sẽ là giáo sư đời thứ bảy. Sau này Ma-ri-a vinh dự đoạt giải Nô-ben Vật lí năm 1963."
Bài 13. Con vẹt xanh
"Tú nhặt được một chú vẹt xanh bị thương ở cánh và tận tình chăm sóc nó. Tú rất nóng lòng dạy vẹt nói tiếng người. Nhưng mỗi lần anh trai gọi Tú giúp việc, Tú lại gắt gỏng: 'Cái gì? Kêu chi kêu hoài!'. Một hôm, khi Tú gọi vẹt, chú vẹt the thé đáp lại: 'Cái gì?'. Tú ngượng chín mặt nhận ra vẹt đã bắt chước đúng câu nói cộc lốc của mình và hiểu ra bài học sâu sắc về sự lễ phép."
Bài 14. Chân trời cuối phố
"Chú cún nhỏ sống trong ngôi nhà ở đầu con phố lầy lội, lúc nào cũng tò mò tự hỏi: 'Ở cuối dãy phố kia có gì nhỉ?'. Một sáng đẹp trời, người nhà mở cổng, cún phóng một mạch chạy hết con dốc. Cún ngỡ ngàng nhận ra trước mặt là bến sông lấp lánh, đò trôi, làng quê xanh ngát và những chân trời vô tận đang chờ cún lớn lên từng ngày."
Bài 15. Gặt chữ trên non
"Bài thơ ca ngợi tinh thần hiếu học vượt khó của các em nhỏ người dân tộc vùng cao. Vừa tỉnh giấc bình minh, các em đã gùi chữ trên lưng, vượt suối lội rừng, bước chân thoăn thoắt lên lớp học trên lưng chừng đồi. 'Cái chữ rơi xuống nương / Mùa cho bông trĩu hạt / Cái chữ bay lên ngàn / Rừng ríu ran chim hát...'."
Bài 16. Trước ngày xa quê
"Cậu bé biết tin sắp phải chuyển lên thành phố theo bố thì òa khóc nức nở vì quyến luyến quê hương. Chiều trước ngày đi, thầy giáo và bè bạn trong xóm đến chơi tiễn cậu. Kỷ niệm những ngày chăn trâu, tắm sông, trèo ổi ngọt lịm ùa về. Thầy giáo vỗ về lau nước mắt cho cậu và dặn: 'Nghỉ hè em lại được về đây chơi với thầy và các bạn!'."
ÔN TẬP VÀ ĐÁNH GIÁ GIỮA HỌC KÌ I
"Hệ thống hóa toàn bộ kiến thức 8 tuần học đầu tiên thuộc hai chủ điểm lớn: 'Mỗi người một vẻ' và 'Trải nghiệm và khám phá'. Rà soát kỹ năng đọc hiểu văn bản văn học và văn bản thông tin; củng cố kiến thức Danh từ và Động từ."
Bài 17. Vẽ màu
"Bài thơ miêu tả thế giới sắc màu rực rỡ dưới ngòi bút vẽ của bạn nhỏ: màu đỏ của hoa hồng, màu vàng của nắng, màu đen của màn đêm lấp lánh sao trời, màu tím của hoàng hôn và màu xanh ngắt của rừng đại ngàn. Cảm động nhất là bạn nhỏ 'tô thêm màu trắng / Trên tóc mẹ sương rơi...' thể hiện tình yêu thương mẹ tha thiết."
Bài 18. Đồng cỏ nở hoa
"Bống là cô bé có tài năng hội họa đặc biệt, em vẽ mọi cảnh vật xung quanh: con mèo Kết, con chó Lu, cây cau, chân dung bố mẹ. Bác Lan đưa tập tranh cho họa sĩ Phan xem, ông trầm trồ thốt lên: 'Chà chà! Vẽ như đồng cỏ đến kì nở hoa!'. Tranh của Bống tràn đầy trí tưởng tượng ngộ nghĩnh: gà mẹ có ti cho con bú, chuột nhất đứng đe dọa mèo... Bống mang năng khiếu hội họa hồn nhiên, tươi mới."
Bài 19. Thanh âm của núi
"Bài văn giới thiệu về tiếng khèn - báu vật truyền thống của đồng bào Mông ở vùng cao Tây Bắc. Chiếc khèn được làm từ gỗ và sáu ống trúc lớn nhỏ tượng trưng cho tình anh em sum vầy. Tiếng khèn réo rắt theo chân người Mông lên nương, xuống chợ, rộn rã lúc mùa xuân về, ngân vang giữa núi rừng trùng điệp biểu trưng cho sức sống mãnh liệt."
Bài 20. Bầu trời mùa thu
"Thầy giáo đưa các học sinh ra cánh đồng ngắm bầu trời mùa thu mát mẻ và khuyến khích mỗi em dùng từ ngữ riêng để miêu tả. Mỗi bạn nhỏ có một phát hiện độc đáo: bạn tả bầu trời 'được rửa mặt sau cơn mưa', bạn thấy bầu trời 'dịu dàng', bạn thấy bầu trời 'buồn bã' vì đàn sếu bay đi, bạn thấy trời 'trầm ngâm' cúi xuống lắng nghe chim én. Bài học khơi gợi năng lực quan sát và rung cảm nghệ thuật cá nhân."
Bài 21. Làm thỏ con bằng giấy
"Văn bản hướng dẫn từng bước quy trình làm chú thỏ con bằng giấy thủ công để tặng bạn nhân dịp sinh nhật. Bài viết nêu rõ danh mục dụng cụ cần chuẩn bị (kéo, bút chì, hồ dán, giấy màu) và 3 bước thực hiện: Bước 1 Cắt (cắt thân, đầu, tai, đế); Bước 2 Dán (dán mép, ráp các bộ phận); Bước 3 Vẽ (trang trí mắt, mũi, râu)."
Bài 22. Bức tường có nhiều phép lạ
"Bé Quy gặp khó khăn khi làm bài tập làm văn 'Tả lại quang cảnh một trận mưa rào' vì ngoài trời đang nắng ráo. Quy thấy bố mỗi khi viết văn thường ngồi nhìn vào bức tường vôi xanh trước mặt rồi viết thoăn thoắt. Bố liền gợi ý cho Quy nhớ lại những kỷ niệm: tiếng sấm, những giọt mưa to, cảnh nghịch mưa, chiếc thuyền giấy trôi bập bềnh... Nhờ gợi ý của bố và trí tưởng tượng, bức tường như mở ra khung cảnh trận mưa rào sống động để Quy làm bài."
Bài 23. Bét-tô-ven và bản xô-nát Ánh trăng
"Nhà soạn nhạc Bét-tô-ven trong một đêm trăng đi dạo bên dòng sông Đa-nuýp đã nghe thấy tiếng đàn dương cầm văng vẳng từ một ngôi nhà nghèo. Bước vào, ông xúc động khi biết người chơi đàn là một cô gái mù mang ước mơ tha thiết được nhìn thấy ánh trăng. Bét-tô-ven đã ngồi vào đàn, tấu lên những giai điệu huyền ảo, êm ái, bừng sáng như ánh trăng dát bạc trên mặt nước. Đó chính là sự ra đời kỳ diệu của bản xô-nát Ánh trăng."
Bài 24. Người tìm đường lên các vì sao
"Từ nhỏ, Xi-ôn-cốp-xki đã mơ ước được bay lên bầu trời. Dù bị điếc do di chứng bệnh từ bé và gia cảnh nghèo khó, ông kiên trì tự học, chỉ ăn bánh mì suông để dành tiền mua sách vở và dụng cụ nghiên cứu. Trải qua hơn 40 năm khổ công tìm tòi, lấy cảm hứng từ quả pháo thăng thiên, ông đã thiết kế thành công mô hình tên lửa nhiều tầng, mở đường cho nhân loại bay vào vũ trụ bao la."
Bài 25. Bay cùng ước mơ
"Nhóm bạn nhỏ nằm trên sườn đồi cỏ xanh ngắm nhìn ngôi làng thanh bình bên dưới và bầu trời cao vời vợi. Các bạn hào hứng chia sẻ những ước mơ của mình: Tuyết mơ làm cô giáo, Văn mơ làm bộ đội hải quân hoặc phi công nhảy dù, Điệp mơ làm y tá chăm sóc người già, Lê mơ lái xe buýt xịn rồi lại muốn lái tàu vũ trụ. Đêm về, các bạn mơ thấy mình bám vào những chùm bóng bay ước mơ bay vút lên bầu trời xanh biếc."
Bài 26. Con trai người làm vườn
"Người cha làm vườn mong muốn con trai nối nghiệp chăm sóc mảnh vườn hoa trái. Nhưng cậu bé lại có niềm say mê cháy bỏng với biển khơi. Cậu quyết tâm lên tàu làm thủy thủ, dũng cảm vượt qua bão tố, cứu tàu thoát khỏi hải tặc và được mọi người nể phục. Nhiều năm sau, cậu trở về thăm cha với tư cách là một thuyền trưởng oai phong. Người cha xúc động rơi nước mắt nhận ra: lòng kiên trì và đam mê đã giúp con biến ước mơ thành sự thật."
Bài 27. Nếu em có một khu vườn
"Bạn nhỏ sống ở thành phố luôn mơ ước có một khu vườn rộng như ở quê ngoại. Trong khu vườn mơ ước, em sẽ trồng cây mít để hái lá làm đàn trâu chơi, xâu lá vàng làm vương miện; trồng cây me để lấy lá non nấu canh cá mát ruột; trồng hoa đào, hoa nhài, hoa giấy rực rỡ để đón ong bướm bay về dập dờn. Tình yêu thiên nhiên hồn nhiên làm sáng bừng tuổi thơ em."
Bài 28. Bốn mùa mơ ước
"Bài thơ là bức tranh ước mơ tuyệt đẹp gắn liền với bốn mùa: Mùa xuân mơ làm cánh én gọi nắng ấm chan hòa; Mùa hạ mơ làm cơn gió mát xua tan oi ả; Mùa thu mơ làm vầng trăng tỏ đùa vui cùng muôn vì sao; Mùa đông mơ làm ngọn lửa hồng sưởi ấm bữa cơm quê chiều lạnh. Khổ thơ cuối mở ra con đường rộng lớn hướng tới tương lai của đất nước."
Bài 29. Dọc đường quốc lộ Tương Lai (Ở vương quốc Tương Lai)
"Trích đoạn kịch 'Ở vương quốc Tương Lai' thuật lại chuyến phiêu lưu kỳ thú của Tin-tin và Mi-tin đến thăm Xưởng Công Xưởng Xanh. Tại đây, các em bé chưa chào đời đang miệt mài sáng chế những điều kỳ diệu cho Trái Đất: thuốc trường sinh chữa bách bệnh, thứ ánh sáng kỳ lạ chưa từng thấy, chiếc máy biết bay trên không như chim, chiếc máy dò tìm kho báu giấu kín trên mặt trăng. Vở kịch tràn ngập ước mơ khoa học phục vụ hạnh phúc loài người."
Bài 30. Cánh chim nhỏ
"Cậu bé khỏe mạnh mơ ước có đôi cánh bay lượn như chim gặp một bạn nhỏ cùng tuổi đang ngồi nghịch cát trong công viên. Cậu ngạc nhiên khi bạn nhỏ nói bạn chỉ ước ao có thể đứng dậy, đi và chạy được như mọi người, vì bạn bị liệt. Cậu bé liền xoay người cõng bạn nhỏ lên lưng và cắm đầu chạy thật nhanh đón gió lốc. Người bạn bị liệt dang rộng hai tay và reo vang sung sướng: 'Bố ơi, con đang bay!'. Sự sẻ chia đã chắp cánh cho ước mơ của bạn thành sự thật."
Bài 31. Nếu chúng mình có phép lạ
"Bài thơ tràn đầy tinh thần nhân văn cao cả của tuổi thơ. Nếu có phép lạ, các bạn nhỏ ước hạt giống nảy mầm nhanh thành cây trĩu quả ngọt; ước ngủ dậy thành người lớn ngay để lái tàu lặn xuống đáy biển, lái phi thuyền bay lên trời; ước hái triệu vì sao đúc thành ông mặt trời mới sưởi ấm nhân gian; và ước 'Hóa trái bom thành trái ngon / Trong ruột không còn thuốc nổ / Chỉ toàn kẹo với bi tròn'. Điệp khúc 'Nếu chúng mình có phép lạ' giục giã khát vọng hòa bình thế giới."
Bài 32. Anh Ba
"Năm 1911 tại Sài Gòn, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (khi đó lấy tên là anh Ba) đã rủ người bạn thân là anh Lê cùng sang Pháp và các nước để tìm con đường cứu nước, cứu dân. Khi anh Lê lo lắng hỏi: 'Chúng ta lấy đâu ra tiền mà đi?', anh Ba đã giơ hai bàn tay rắn rỏi ra và khẳng định: 'Đây, tiền đây! Chúng ta sẽ làm việc, chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi!'. Tinh thần quả cảm, quyết tâm sắt đá của anh Ba - Bác Hồ kính yêu là bài học chói lọi cho muôn đời sau."
Bài 1. Hải Thượng Lãn Ông
"Hải Thượng Lãn Ông (Lê Hữu Trác, 1720 - 1791) là bậc đại danh y của dân tộc Việt Nam. Ông từ bỏ danh vọng chốn quan trường để dồn hết tâm sức học nghề thuốc chữa bệnh cứu người. Ông hết lòng thương xót người nghèo khổ, không quản ngại đêm hôm mưa bão, đường xa lầy lội đến tận nơi bốc thuốc cứu chữa miễn phí và còn cho gạo, tiền. Tấm lòng nhân từ 'Lương y như từ mẫu' của ông sáng mãi muôn đời."
Bài 2. Vệt phấn trên mặt bàn
"Minh ngồi cạnh bạn gái mới chuyển đến tên là Thi Ca. Vì Thi Ca hay viết bằng tay trái, cùi chỏ hay chạm vào tay Minh làm nét chữ nguệch ngoạc nên Minh bực bội lấy phấn kẻ một đường ranh giới chia đôi mặt bàn, cấm bạn thò tay sang. Khi Thi Ca phải nghỉ học vào bệnh viện chữa cánh tay bị tật, Minh mới ân hận nhận ra sự ích kỷ của mình và vội vã lấy giẻ lau sạch vệt phấn chia ranh giới."
Bài 3. Ông Bụt đã đến
"Mai vô tình làm gãy một cành lan tím tuyệt đẹp trước hiên nhà của người nhạc sĩ già hàng xóm. Mai ân hận và sợ hãi đến phát khóc. Đứng trước cửa, em thì thầm ước: 'Ông Bụt ơi, cứu con!'. Người nhạc sĩ tình cờ nhìn thấy giọt nước mắt của cô bé, chiều hôm đó ông lặng lẽ đi mua một chậu lan mới giống hệt thay vào. Sáng hôm sau nhìn thấy nhánh hoa tím biếc nở tươi, Mai reo lên: 'Mẹ ơi, ông Bụt đã cứu con!'."
Bài 4. Quả ngọt cuối mùa
"Bài thơ là tình cảm kính yêu, xót xa và biết ơn sâu sắc của người cháu đối với bà kính yêu. Giữa mùa đông giá rét 'Gió như cắt, rét cưa như dao', bà vẫn chống gậy ra vườn trông chừng chùm cam chín ngọt cuối mùa dành phần cho con cháu đi xa trở về. Hình ảnh bà tóc bạc da mồi, trọn đời hy sinh chắt chiu như quả ngọt dâng hiến cho con cháu làm người đọc rưng rưng xúc động."
Bài 5. Tờ báo tường của tôi
"Trên đường sang nhà bạn để bàn làm báo tường Tết Trung thu, cậu bé bất ngờ gặp một người đi xe máy bị ngã lộn nhào bên bờ dốc, hàng hóa đổ đè lên người. Không quản đường rừng heo hút và đá tai mèo sắc nhọn cào rách chân, cậu bé cắm đầu chạy như bay đến đồn biên phòng gần nhất báo tin. Nhờ đó người bị nạn được cứu kịp thời. Cậu bé sung sướng đặt nhan đề cho tờ báo tường lớp mình là 'Trăng rằm yêu thương'."
Bài 6. Tiếng ru
"Bài thơ tuyệt tác của nhà thơ Tố Hữu khuyên nhủ con người về tình đoàn kết, gắn bó với cộng đồng và lòng biết ơn nguồn cội. 'Con ong làm mật yêu hoa / Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời / Con người muốn sống con ơi / Phải yêu đồng chí, yêu người anh em...'. 'Núi cao bởi có đất bồi / Núi chê đất thấp, núi ngồi ở đâu?...'. Bài thơ là lời nhắn nhủ thắm thiết về tình mẹ và tình dân tộc."
Bài 7. Con muốn làm một cái cây
"Bum lớn lên cùng cây ổi trước sân nhà cũ do chính tay ông nội trồng khi mẹ mang bầu Bum. Cây ổi đầy ắp kỷ niệm: hai ông cháu bắt sâu, hái ổi chín chia cho chúng bạn, ông ngồi nghe đài phe phẩy quạt... Ba năm xa nhà cũ chuyển vào Sài Gòn, Bum tha thiết nhớ ông và viết trong bài văn: 'Con muốn làm một cái cây. Con muốn làm cây ổi trong sân nhà cũ để thấy ông ngồi cười hiền lành...'. Bố mẹ đã thấu hiểu nỗi nhớ và trồng ngay một cây ổi nơi nhà mới cho Bum."
Bài 8. Trên khóm tre đầu ngõ
"Đôi cò trắng về làm tổ trên khóm tre nhà ông cháu Bua Kham rồi ấp nở ra bầy cò con kêu líu ríu. Trận bão lớn tràn qua quật ngã tổ cò, lũ chim non rơi run rẩy dưới đất. Thay vì nhặt về nuôi nhốt hoặc bán như người khác khuyên, Bua Kham đã cùng ông bắc thang đem đặt lũ cò non an toàn vào chiếc tổ cũ trên cành tre. Mùa sau, bầy cò dẫn thêm hàng chục cặp cò bạn về rợp bóng khóm tre. Tình yêu thương động vật đã mang lại quả ngọt an lành."
Bài 9. Sự tích con Rồng cháu Tiên
"Truyền thuyết nguồn cội dân tộc Việt Nam kể về mối duyên kỳ ngộ giữa Lạc Long Quân nòi Rồng ở biển Đông và Âu Cơ dòng dõi Tiên trên núi cao. Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng nở thành một trăm người con trai khỏe mạnh, tuấn tú. Do tập quán sống khác nhau, hai người chia năm mươi con theo mẹ lên non, năm mươi con theo cha xuống biển, hẹn khi có hoạn nạn cùng giúp đỡ nhau. Người con trưởng lên làm vua lấy hiệu Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang. Từ đó người Việt tự hào gọi nhau là 'đồng bào'."
Bài 10. Cảm xúc Trường Sa
"Bài thơ dạt dào tình yêu biển đảo quê hương và niềm cảm phục những người lính đảo kiên trung. Giữa muôn trùng bão gió khắc nghiệt, đảo vẫn ngời lên màu hoa muống biển, hoa bàng vuông kiên cường nở hoa, và nụ cười rạng rỡ của người lính hải quân. 'Mỗi hạt cát Trường Sa / Đã trở thành máu thịt / Những tên đảo, tên người / Viết hoa thành Tổ quốc.'."
Bài 11. Sáng tháng Năm
"Đoạn trích bài thơ nổi tiếng của Tố Hữu ghi lại niềm hân hoan rạo rực khi nhà thơ lên chiến khu Việt Bắc thăm Bác Hồ trong một sáng tháng Năm ngập tràn nắng gió. Bác Hồ hiện lên mộc mạc, giản dị mà vĩ đại: ngồi viết trong ngôi nhà sàn đơn sơ, tay ấm áp nắm lấy tay con, xung quanh có chim bồ câu trắng ngây thơ đến tìm thóc. Bác là hiện thân của non sông đất nước Việt Nam."
Bài 12. Chàng trai làng Phù Ủng
"Phạm Ngũ Lão là danh tướng kiệt xuất đời nhà Trần. Khi còn hàn vi ngồi đan sọt bên vệ đường, vì mải mê suy nghĩ kế sách trong binh thư, ông không hề hay biết đoàn quân của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đi qua. Quân lính tức giận lấy giáo đâm vào đùi chảy máu, ông vẫn ngồi điềm nhiên. Thấy chàng trai có chí lớn và uyên bác về binh thư, Trần Hưng Đạo trọng dụng, rèn luyện ông thành 'vị tướng bách chiến bách thắng'."
Bài 13. Vườn của ông tôi
"Cậu bé sinh ra ở thành phố lần đầu được về quê thăm vườn của người ông đã khuất. Dưới sự dẫn dắt của bà nội, từng gốc mít, bụi chuối, hàng cau vút cao, cây sung ven ao, giàn trầu không... đều in đậm bàn tay chăm bón tỉ mỉ của ông thuở sinh thời. Dù ông đã đi xa nhưng bóng hình và tình thương của ông vẫn mãi mãi xanh tươi trong từng nhành cây kẽ lá của khu vườn."
Bài 14. Trong lời mẹ hát
"Bài thơ là khúc ca êm dịu, ngọt ngào ngợi ca lời ru của mẹ. Lời mẹ hát mở ra cả một thế giới cổ tích nhiệm màu, có cánh cò bay lả trên đồng xanh, màu vàng hoa mướp, nhịp võng ca dao chòng chành nuôi lớn tâm hồn con. Thời gian trôi đi, tóc mẹ bạc dần, lưng mẹ còng xuống để nâng bước con ngày một thêm cao. Lời ru chính là đôi cánh kỳ diệu nâng con bay xa vào đời."
Bài 15. Người thầy đầu tiên của bố tôi
"Người bố dẫn con trai đi tàu về một ngôi làng nhỏ thăm lại người thầy giáo đầu tiên của mình - cụ Cơ-rô-xét-ti nay đã 80 tuổi râu tóc bạc phơ. Dù đã là một người thành đạt, bố vẫn kính cẩn ngả mũ cúi đầu chào thầy từ xa và ôm chầm lấy thầy xúc động. Người thầy già vẫn cất giữ cẩn thận bài chính tả điểm tốt từ thời bố còn học lớp Một chữ to cồ cộ. Cuộc hội ngộ đẫm nước mắt làm bạn nhỏ thấm thía sâu sắc nghĩa thầy trò cao quý."
Bài 16. Ngựa biên phòng
"Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp dũng mãnh của những chú ngựa biên phòng cùng các chiến sĩ biên cương ngày đêm tuần tra bảo vệ biên giới Tổ quốc. 'Chú bộ đội biên phòng / Rạp mình trên lưng ngựa / Ngựa phi nhanh như bay / Cả cánh rừng nổi gió... Chân ngựa như sắt thép / Luôn săn đuổi quân thù / Vó ngựa như có mắt / Chẳng vấp ngã bao giờ...'. Các em nhỏ trong bản phơi cỏ khô thơm nồng gửi tặng ngựa biên phòng yêu thương."
ÔN TẬP VÀ ĐÁNH GIÁ GIỮA HỌC KÌ II
"Ôn tập tổng kết 8 tuần học đầu tiên của Học kì II thuộc hai chủ điểm: 'Sống để yêu thương' và 'Uống nước nhớ nguồn'. Củng cố kiến thức ngữ pháp về Câu, Chủ ngữ, Vị ngữ, các loại Trạng ngữ (thời gian, nơi chốn, nguyên nhân, mục đích); rèn luyện kỹ năng đọc hiểu và viết văn."
Bài 17. Cây đa quê hương
"Cây đa nghìn năm tuổi đầu làng gắn liền với tuổi thơ của tác giả và bao thế hệ người dân quê. Cây to như một tòa cổ kính, chín mười đứa trẻ ôm không xuể. Rễ cây nổi trên mặt đất u nần như những con trăn mang giận dữ; vòm lá xanh xào xạc như điệu nhạc cổ tích. Dưới bóng đa râm mát, đàn trâu thong thả gặm cỏ, gió chiều thổi lan qua đồng ruộng yên ả, khắc sâu vẻ đẹp bình dị thiêng liêng của làng quê Việt Nam."
Bài 18. Bước mùa xuân
"Bài thơ miêu tả bước chuyển mình kỳ diệu của thiên nhiên đất trời khi bước sang mùa xuân. Nắng xuân dịu ngọt trong veo, mưa xuân lất phất tưới tắm chồi non, hoa xoan tím biếc rụng vương trên cỏ, dế mèn hắng giọng cất khúc ca đón mùa mới. Cảnh vật làng quê bừng tỉnh, dồi dào nhựa sống tươi mới."
Bài 19. Đi hội chùa Hương
"Bài thơ ghi lại không khí trẩy hội chùa Hương mùa xuân tươi đẹp tại huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Người người nườm nượp đổ về trẩy hội trong làn sương khói mờ ảo, suối Yến thanh bình, rừng mơ thay áo mới xúng xính hoa đón chào. Đi hội chùa Hương không chỉ để lễ Phật cầu an mà còn là dịp chiêm ngưỡng non sông gấm vóc hùng vĩ, gắn kết tình yêu quê hương đất nước tha thiết."
Bài 20. Chiều ngoại ô
"Khung cảnh chiều hè ở vùng ngoại ô hiện lên êm đềm và thanh bình tuyệt đẹp. Không khí mát mẻ, nắng chiều vàng dịu nhạt dần, dải cỏ xanh mát như tấm thảm đón bước chân. Phía trước là những ruộng rau muống hoa tím lấp lánh, rặng tre xanh thì thầm trong gió, cánh đồng lúa chín thoang thoảng hương thơm. Thích nhất là lũ trẻ tụ tập thả diều: diều cốc, diều tu, diều sáo bay lượn đón gió, tiếng sáo vi vu ngân vang đưa những ước mơ tuổi thơ bay cao."
Bài 21. Những cánh buồm
"Bài văn miêu tả vẻ đẹp biến ảo kỳ thú của những cánh buồm trên dòng sông quê. Có cánh buồm màu trắng như áo chị, có cánh màu xám bạc như màu áo bố dãi dầu nắng mưa đồng bãi. Buổi nắng đẹp buồm căng phồng đón gió lướt sóng; khi giông bão buồm cuộn tròn nép mình trên mũi thuyền. Dù ngày nay đã có tàu lớn vượt đại dương, những cánh buồm nâu, buồm trắng vẫn thủy chung gắn bó cùng con người qua năm tháng."
Bài 22. Cái cầu
"Người cha làm nghề công nhân xây dựng gửi về cho con tấm ảnh chụp cây cầu lớn bắc qua sông sâu (cầu Hàm Rồng sông Mã). Nhìn ảnh cầu của cha, bạn nhỏ liên tưởng ngộ nghĩnh và yêu thương tới muôn chiếc cầu bình dị thân thương: cầu tơ nhện qua chum nước, cầu ngọn gió cho con sáo sang sông, cầu lá tre cho kiến qua ngòi, cầu tre lối sang nhà bà ngoại như võng ru êm, cầu ao mẹ đãi đỗ... Nhưng bạn nhỏ yêu nhất vẫn là cây cầu cha vừa bắc xong."
Bài 23. Đường đi Sa Pa
"Đoạn văn miêu tả cảnh sắc kỳ ảo trên con đường uốn lượn xuyên tỉnh lên Sa Pa. Mây trắng sà xuống cửa kính xe, rừng cây âm âm, hoa chuối rực đỏ như ngọn lửa. Chiều về, phố huyện nhỏ hiện lên thanh bình với những em bé Mông, Dao váy áo rực rỡ sắc màu sương núi. Sa Pa được ví như 'món quà tặng diệu kì' của thiên nhiên với thời tiết bốn mùa xuân - hạ - thu - đông hội tụ trong một ngày duy nhất."
Bài 24. Quê ngoại
"Ki-a là cô bé sinh ra và lớn lên ở nước Mỹ xa xôi. Trong kỳ nghỉ hè, em được mẹ đưa về thăm quê ngoại ở làng Chùa (bên bờ sông Đáy, Việt Nam). Làng Chùa đón em với những ngôi nhà nhỏ bình yên, cánh đồng lúa chín vàng bao la, ao sen thơm ngát, những chiếc chong chóng lá dứa và chiếc kèn thổi vang trên mặt đê. Trở về Mỹ, Ki-a tự hào khoe mình 'rất giàu' vì có thêm một quê hương ấm áp tình người."
Bài 25. Khu bảo tồn động vật hoang dã Ngô-rông-gô-rô
"Khu bảo tồn động vật hoang dã Ngô-rông-gô-rô tại đất nước Tan-da-ni-a (châu Phi) nằm trên miệng núi lửa cổ rộng hơn 8.000 km², được mệnh danh là 'Quà tặng sự sống' và được UNESCO công nhận Di sản Thế giới. Nơi đây là ngôi nhà tự do của hơn 25.000 loài động vật: tê giác đen, trâu rừng, linh dương đầu bò, hà mã, sư tử, voi và hàng nghìn con hồng hạc phủ kín mặt hồ như áng mây hồng. Động vật ở đây được bảo vệ an toàn tuyệt đối, sống chan hòa không sợ săn bắn."
Bài 26. Ngôi nhà của yêu thương
"Bức thư đoạt giải Nhất cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU của bạn nhỏ Lương Thanh Bình gửi cho những bạn nhỏ không nhà trên thế giới. Nhìn thấy cảnh trẻ thơ nơi chiến tranh phải chịu đói rét, mất nhà cửa vì bom đạn tàn phá, bạn ước mong: 'Nếu là người lớn, chúng mình sẽ vứt tất cả đạn, bom, súng xuống biển... Chúng mình sẽ cùng xây dựng một ngôi nhà rất to triệu triệu gian cho tất cả trẻ con trên thế giới sống chung...'. Bức thư cháy bỏng khát vọng hòa bình và bác ái."
Bài 27. Băng tan
"Văn bản khoa học thường thức cảnh báo về hiểm họa Trái Đất nóng lên làm băng tan nhanh ở Nam Cực và Bắc Cực. Băng tan khiến gấu Bắc Cực phải bơi xa kiếm ăn, chim cánh cụt mất nơi cư trú. Nước biển dâng cao nhấn chìm các vùng đất ven biển và hải đảo, đe dọa sinh mạng hàng triệu người. Bài viết kêu gọi nhân loại chung tay tiết kiệm năng lượng, trồng cây xanh và bảo vệ bầu khí quyển Trái Đất."
Bài 28. Chuyến du lịch thú vị
"Cậu bé Dương được cùng bố mẹ sang Pa-ri (thủ đô nước Pháp) dự hội thảo và được bà Mi-su dẫn đi thăm tháp Ép-phen bằng tàu điện ngầm. Dương choáng ngợp trước vẻ đẹp sừng sững của tháp cao vút giữa trời xanh và lộng lẫy khi 20.000 ngọn đèn bừng sáng về đêm. Hai bà cháu tay trong tay dạo bước thân thiết, Dương cảm nhận Pa-ri thật nồng ấm, thân thiện và tươi đẹp."
Bài 29. Lễ hội ở đền Bà Triệu (Lễ hội ở Nhật Bản)
"Bài đọc giới thiệu những lễ hội truyền thống đặc sắc của đất nước Nhật Bản tươi đẹp: Lễ hội Hoa anh đào mùa xuân gắn với phong tục ngắm hoa, ngâm thơ và ca múa; Lễ hội Búp bê (ngày 3 tháng 3) cầu chúc sức khỏe, may mắn cho các bé gái; và Tết Thiếu nhi (ngày 5 tháng 5) với những dải cờ hình cá chép sặc sỡ bay phấp phới trên nóc nhà cầu mong các bé trai khỏe mạnh, kiên cường vượt khó."
Bài 30. Ngày hội
"Bài thơ là khúc ca rộn rã tại trại hè thiếu nhi quốc tế - nơi hội tụ của bạn bè năm châu: bạn từ Trung Quốc, bạn từ châu Mỹ, bạn bên bờ sông Đa-nuýp, bạn bên dòng sông Hồng Việt Nam. Dù màu da khác nhau (da vàng, da đỏ, da đen, da trắng), dù tiếng nói bất đồng, tất cả đều chung nhau một niềm tin hòa bình. Các bạn cùng tung chim bồ câu trắng lên bầu trời xanh chan hòa ánh nắng, ước mơ cho Trái Đất mãi mãi thanh bình."